lang vn lang en

Trang nhất » Tin Địa lý » Biển Đông Việt Nam

Khoáng sản rắn và dầu khí ở vùng biển nước ta

Thứ sáu - 30/12/2016 02:29
Nước ta có vùng bờ biển dài hơn 3.260 km, tiềm năng khoáng sản dồi dào, có ý nghĩa rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước theo hướng bền vững. Theo Tổng cục B&HĐ Việt Nam, sau khi tiến hành điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực ĐCKS, địa chất môi trường độ sâu từ 30 m đến 100 m nước vùng bờ biển Việt Nam, các nhà khoa học đã phát hiện tiềm năng lớn tài nguyên ĐCKS rắn đáy biển và dầu khí có khả năng khai thác công nghiệp to lớn.



Mỏ Bạch Hổ

 

Trữ lượng lớn khoáng sản rắn

Hiện nay, các nhà khoa học cũng đã khoanh vùng 4 khu vực tập trung sa khoáng phân bố trong các đới bờ cổ với lượng tài nguyên dự báo lên tới 23.688.000 tấn quặng ilmenit, zircon. Vùng biển Vũng Tàu đến Côn Đảo có tài nguyên dự báo cát xây dựng là 88 tỷ mét khối. Cùng với tài nguyên khoáng sản, trước đó, các nhà khoa học cũng đã phát hiện và khoanh vùng 27 vùng biển Việt Nam có thể chứa nhiều khí hydrate nguồn nguyên liệu thay thế cho dầu lửa và than đá. Khí hydrate đã được các nhà khoa học trên thế giới xếp vào một trong 9 nguồn năng lượng sạch trong tương lai. Các nhà khoa học địa chất cho rằng, phần lớn địa hình đáy biển trên vùng biển Việt Nam có vĩ tuyến trùng với hướng tách giãn của Biển Đông. Tại đây, có nhiều núi lửa là dạng địa hình thuận lợi cho việc hình thành các cao nguyên ngầm, vì vậy có rất nhiều dạng tài nguyên tồn tại. Một số mỏ sa khoáng có ý nghĩa kinh tế, đang khai thác là Quảng Xương, Thanh Hóa (trữ lượng Ti: 80.198 tấn, Zn: 2.298 tấn), mỏ Cẩm Hoà (trữ lượng Ti: 2.500.000 tấn, Zn: 85.995 tấn), mỏ Kẻ Ninh (trữ lượng Ti: 443.475 tấn, Zn: 35.126 tấn), mỏ Kẻ Sung (trữ lượng Ti:3.370.000 tấn, Zn: 100.000 tấn), mỏ Đề Gi (trữ lượng Ti:1.749.599 tấn, Zr:78.978 tấn), mỏ Hàm Tân (Ti: 1.300.000 tấn, Zn:442.198 tấn). Liên quan đến các mỏ sa khoáng Titan, Ziacon, đất hiểm, những tài liệu thống kê cho thấy ven biển Việt Nam, có 2 mỏ lớn, 7 mỏ trung bình, 6 mỏ nhỏ và hàng chục điểm quặng (dưới 25.000 tấn). Các mỏ sa khoáng chủ yếu là Titan, Ziacon, còn các quặng đất hiếm chưa đạt giá trị công nghiệp của mỏ nên chỉ xem là những quặng đi kèm khi khai thác. Cát thủy tinh là một trong những khoáng sản chính ven biển Việt Nam, phân bố rải rác dọc bờ biển từ Bắc đến Nam. Có mỏ ở ngoài đảo như Vân Hải (Quảng Ninh). Hầu hết các mỏ cỡ lớn tập trung ở ven biển, đoạn từ Cam Ranh đến Bình Châu. Ước chừng có 20 mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò với tổng trữ lượng khoáng 584 triệu tấn. Đa số các mỏ là cát thủy tinh. Một số mỏ cát có chất lượng tốt như Vân Hải, Cam Ranh có chất lượng cao để sản xuất pha lê dụng cụ quang học. Ngoài quặng Titan cùng kim loại hiếm đi kèm và cát thủy tinh, các khoáng sản kim loại khác chỉ là những biểu hiện Vàng, Thiếc. Về quặng sắt, lớn nhất Việt Nam là mỏ Thạch Khê nằm ở ven biển Hà Tĩnh có trữ lượng 532 triệu tấn. Vật liệu xây dựng và san lấp được phân bố ở vùng nước nông, cửa sông, ven biển, trong đó khá tập trung ở vùng ven bờ nước nông Quảng Ninh - Hải Phòng.

Các nghiên cứu cho thấy, tại vùng quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa khoáng vật Pyrit có cả ở 3 vùng biển theo độ sâu (thềm, sườn lục địa và biển sâu) nhưng chủ yếu ở rìa ngoài thềm lục địa tới chân lục địa độ sâu khoảng 200 - 2.800 m. Phía Nam đảo Trường Sa pirit có hàm lượng khá cao, đạt 5,5 - 7,5% vât liệu trầm tích, dải phía Đông quần đảo ở độ sâu 1.000 - 2.000 m hàm lượng pirit là khoảng 1-5% vật liệu trầm tích. Kết hạch sắt-mangan có xung quanh quần đảo Trường Sa trong đó hàm lượng mangan tăng dần theo độ sâu từ 500 - 3.000 m (khoảng 1,5%). Kết hạch sắt-mangan tập trung chủ yếu ở chân lục địa độ sâu 2.000 - 4.000 m. Ngoài ra, tại vùng quần đảo này còn phát hiện thạch cao, thường đi cùng pirit, hàm lượng thay đổi từ 2,9% đến 6,5%. Đây là nguồn khoáng sản dồi dào, nhưng rất quý hiềm cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Nguồn dầu khí dồi dào

Vùng biển và thềm lục địa rộng lớn cũng là nơi có triển vọng dầu khí lớn. Hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở Việt Nam đã được bắt đầu triển khai ở miền võng Hà Nội và trũng An Châu. Ở thềm lục địa phía Nam, công việc này được các công ty nước ngoài như Mobil, Pecten... tiến hành từ những năm 1970. Năm 1975, mỏ khí Tiền Hải “C” (Thái Bình) được phát hiện và đưa vào khai thác từ năm 1981. Dựa trên kết quả nghiên cứu địa chất-địa vật lý đã xác định được 7 bồn trầm tích có triển vọng chứa dầu khí ở thềm lục địa nước ta. Đó là bồn trũng sông Hồng, bồn trũng Phú Khánh, bồn Cửu Long, bồn Nam Côn Sơn, bồn Mã Lai - Thổ Chu, bồn Tư Chính - Vũng Mây và nhóm bồn Trường Sa - Hoàng Sa. Các mỏ dầu khí ở nước ta được phát hiện và khai thác từ lòng đất dưới đáy biển khu vực thềm lục địa phía Nam, nơi có độ sâu 50 - 200 m nước và trong tầng cấu trúc địa chất sâu trên 1.000 m đến trên 5.000 m. Một số mỏ ở bồn trũng Cửu Long (được xem là bồn có chất lượng tốt nhất) như Bạch Hổ và mỏ Đại Hùng ở bồn trũng Nam Côn Sơn là những mỏ có chứa dầu cả ở đá móng. Mỏ Bạch Hổ cũng được xem là trường hợp ngoại lệ chứa dầu trong đá móng, khoảng 80% dầu di chuyển từ nơi khác đến trong hệ thống khe nứt đá móng.

Nguồn dầu khí đã thăm dò, khảo sát của Việt Nam có trữ lượng tiềm năng khoảng trên 4 tỷ m3 dầu quy đổi và gần đây mở rộng tìm kiếm đã phát hiện một số mỏ mới cho phép gia tăng trữ lượng dầu khí của Việt Nam. Hiện nay đã có 12 phát hiện dầu khí mới, gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 333 triệu tấn quy dầu. Hoạt động khai thác dầu khí được duy trì tại 6 mỏ ở thềm lục địa phía Nam: Bạch Hổ, Đại Hùng, Rồng, Rạng Đông, Hồng Ngọc và PM3. Sản lượng dầu thô khai thác ở nước ta tăng hàng năm 30% và ngành dầu khí nước ta đã đạt mốc khai thác tấn dầu thô hàng trăm triệu.

Cùng với việc khai thác dầu, hằng năm phải đốt bỏ gần 1 tỉ m3 khí đồng hành, bằng số nhiên liệu cung cấp cho một nhà máy điện tuabin khí có công suất 300 mW. Để tận dụng nguồn khí này, Chính phủ đã cho xây dựng một Nhà máy điện khí Bà Rịa. Nhà máy lọc dầu đầu tiên cũng đã được khẩn trương xây dựng và đưa vào hoạt động ở Dung Quất (Quảng Ngãi). Phương hướng cơ bản sắp tới là đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thềm lục địa và vươn ra xa, đi xuống sâu hơn; xác định các cấu trúc có triển vọng và xác minh trữ lượng công nghiệp có khả năng khai thác; tiếp tục đưa các mỏ mới vào khai thác. Trong giai đoạn 2015 - 2020 phấn đấu gia tăng trữ lượng dầu khí từ 140 - 180 triệu tấn dầu quy đổi. Các chuyên gia kinh tế nước ngoài dự báo đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí, một lĩnh vực sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài hơn cả, sẽ tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới. Doanh thu từ ngành này hiện đang chiếm trên 25% tổng thu ngân sách của Việt Nam. Hiện tại, có khoảng 29 hợp đồng dầu khí đang có hiệu lực tại Việt Nam, bao gồm ba hợp đồng mới được ký kết cho bốn lô thuộc bể Phú Khánh trong nửa đầu năm nay, với sự góp mặt của hầu hết các tập đoàn dầu khí đứng đầu trên thế giới. PetroVietnam cho biết, trong thời gian tới sẽ tiếp tục ký kết các hợp đồng đang mời thầu còn lại với các công ty nước ngoài.

Khai thác tài nguyên khoáng sản rắn, dầu khí vùng biển nước ta có vai trò rất quan trọng trọng sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước bền vững. Bộ TN&MT đã tập trung sức, dành nhiều chương trình nghiên cứu, đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý và triển khai sâu rộng Luật TN, MT B&HĐ; đã tổ chức thành công Tuần lễ B&HĐ Việt Nam hằng năm, tổ chức thành công Đại hội biển Đông á lần thứ 5; tăng cường phối hợp với các địa phương có biển để bảo vệ, khai thác nguồn tài nguên khoáng sản to lớn và quý giá của đất nước.

Nguồn tin: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 
ISIVAST

Là phiên bản điện tử trực tuyến có thể in được ra giấy, Bản tin hướng tới mục đích cung cấp thêm một kênh thông tin mới cho toàn thể cán bộ trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về các mặt hoạt động của Viện Hàn lâm nói chung và của các đơn vị trực thuộc nói riêng. Bên cạnh những tin tức của Viện, Bản tin còn mang đến cho bạn đọc những tin tức chọn lọc hữu ích về các hoạt động khoa học và công nghệ ở trong nước và trên thế giới đáng được bạn đọc quan tâm và theo dõi.


Số 07-2017 số 08-2017  
Số 04-2017 số 05-2017 số 06-2017
Số 01-2017 Số 02-2017 Số 03-2017
Số 10-2016 Số 11-2016 Số 12-2016
Số 7-2016 Số 8-2016 Số 9-2016
Số 4-2016 Số 5-2016 Số 6-2016
Số 01,02-2016 Số 3-2016
Số 10-2015 Số 11-2015 Số12-2015
Số 7-2015 Số 8-2015 Số 9-2015
Số 4-2015 Số 5-2015 Số 6-2015
Số 01-2015 Số 02-2015 Số 3-2015

Không cần đăng nhập,
Sử dụng mật khẩu và passwords là Guest

Hệ thống tìm kiếm và lưu trữ trực tuyến các văn bản trực thuộc và liên quan của Viện Hàn lâm KHCNVN

Viện Hàn Lâm KHCNVN ban hành
Quyết định
Thông báo
Kế hoạch - Tài chính
Khoa học - Công nghệ
Tổ chức - Cán bộ
Giáo dục - Đào tạo
Hợp tác quốc tế
Thông tin - Xuất bản

Văn bản mẫu

Trung tâm TTTL ban hành

Bộ KHCN ban hành

 

Trang chủ | Giới thiệu
Trang thông tin điện tử thuộc bản quyền và quản lý của Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
                                              Địa chỉ:  Nhà A27, Số 18 Hoàng Quốc Việt - Phường Nghĩa Đô - Cầu Giấy - Hà Nội
                                              Điện thoại: (84 4) 3 756 3539                Fax: (84 4) 3 836 1192
                                              Email:
qlthvdl@gmail.com                     email ban quản trị website: ig.vast.vn@gmail.com