lang vn lang en

Trang nhất » Tin Địa lý » Biển Đông Việt Nam

Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tiềm năng của biển Đông

Thứ ba - 13/05/2014 04:01
Việt Nam là một quốc gia ven biển. Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, từ Quảng Ninh ở phía Đông Bắc tới Kiên Giang ở phía Tây Nam. Vùng biển Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa. Với mong muốn cung cấp thêm thông tin nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo, góp phần quan trọng vào thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Báo Hậu Giang mở chuyên mục “Biển đảo Việt Nam”. Nội dung tuyên truyền tập trung vào các vấn đề: Vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh và ý nghĩa, tầm quan trọng của biển, đảo Việt Nam; những cơ sở pháp lý, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phổ biến các văn bản pháp luật về biển đảo của Nhà nước và luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển;…
 
Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
 
Biển Đông còn gọi là biển Nam Trung Hoa (tên tiếng Anh The South China Sea và tiếng Pháp Mer de Chine Méridionale) là một biển rìa Tây Thái Bình Dương.
 
Theo quy định của Ủy ban Quốc tế về biển, tên của các biển rìa thường dựa vào địa danh của lục địa lớn gần nhất hoặc mang tên của một nhà khoa học phát hiện ra chúng. Biển Đông nằm ở phía Nam đại lục Trung Hoa nên có tên gọi là biển Nam Trung Hoa. Tuy nhiên, địa danh biển không có ý nghĩa về mặt chủ quyền như một số người ngộ nhận.
 

Vấn đề chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển được xác định và giải quyết theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982. Biển Đông được nhân dân Việt Nam gọi theo thói quen như một danh từ riêng.
 
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông. Ngoài Việt Nam, biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia. Theo ước tính sơ bộ, biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu người dân của các nước này.
 
Tiềm năng
 
Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ. Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản), khoáng sản (dầu khí), du lịch và là khu vực đang chịu sức ép lớn về bảo vệ môi trường sinh thái biển.
 
Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippines, trong đó Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm), Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5-2 triệu tấn/năm), cả khu vực đánh bắt khoảng 7-8% tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới.
 
Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Brunei - Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan… trong đó Indonesia là thành viên của OPEC.
 
Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi. Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác khoảng 02 tỷ tấn và trữ lượng dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ m3.
 
Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở biển Đông là 07 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì được trong vòng 15-20 năm tới. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam đứng vào hạng trung bình trong khu vực, tương đương Thái Lan và Malaysia.
 
Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng dầu khí chưa được khai thác được coi là một nhân tố quan trọng làm tăng thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển quanh hai quần đảo.
 
Đối với Việt Nam, biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Bờ biển nước ta vừa là cửa ngõ bang giao kinh tế vừa là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Hầu hết các ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta đều gắn kết với biển như du lịch, dầu khí, thủy sản, giao thông vận tải, công nghiệp tàu thủy… Năm 2003, tổng GDP từ kinh tế biển và vùng ven biển ước tính đạt khoảng 197,3 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 1,54 tỷ USD, bằng khoảng 32,6% GDP của cả nước (GDP của năm 2003 đạt gần 336 nghìn tỷ đồng) và khu vực ven biển nước ta nuôi sống được khoảng 25 triệu người, bằng khoảng 31% dân số cả nước.

Nguồn tin: Báo Hậu Giang

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
ISIVAST

Là phiên bản điện tử trực tuyến có thể in được ra giấy, Bản tin hướng tới mục đích cung cấp thêm một kênh thông tin mới cho toàn thể cán bộ trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về các mặt hoạt động của Viện Hàn lâm nói chung và của các đơn vị trực thuộc nói riêng. Bên cạnh những tin tức của Viện, Bản tin còn mang đến cho bạn đọc những tin tức chọn lọc hữu ích về các hoạt động khoa học và công nghệ ở trong nước và trên thế giới đáng được bạn đọc quan tâm và theo dõi.


Số 07-2017 số 08-2017 số 09-2017
Số 04-2017 số 05-2017 số 06-2017
Số 01-2017 Số 02-2017 Số 03-2017
Số 10-2016 Số 11-2016 Số 12-2016
Số 7-2016 Số 8-2016 Số 9-2016
Số 4-2016 Số 5-2016 Số 6-2016
Số 01,02-2016 Số 3-2016
Số 10-2015 Số 11-2015 Số12-2015
Số 7-2015 Số 8-2015 Số 9-2015
Số 4-2015 Số 5-2015 Số 6-2015
Số 01-2015 Số 02-2015 Số 3-2015

Không cần đăng nhập,
Sử dụng mật khẩu và passwords là Guest

Hệ thống tìm kiếm và lưu trữ trực tuyến các văn bản trực thuộc và liên quan của Viện Hàn lâm KHCNVN

Viện Hàn Lâm KHCNVN ban hành
Quyết định
Thông báo
Kế hoạch - Tài chính
Khoa học - Công nghệ
Tổ chức - Cán bộ
Giáo dục - Đào tạo
Hợp tác quốc tế
Thông tin - Xuất bản

Văn bản mẫu

Trung tâm TTTL ban hành

Bộ KHCN ban hành

 

Trang chủ | Giới thiệu
Trang thông tin điện tử thuộc bản quyền và quản lý của Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
                                              Địa chỉ:  Nhà A27, Số 18 Hoàng Quốc Việt - Phường Nghĩa Đô - Cầu Giấy - Hà Nội
                                              Điện thoại: (84 4) 3 756 3539                Fax: (84 4) 3 836 1192
                                              Email:
qlthvdl@gmail.com                     email ban quản trị website: ig.vast.vn@gmail.com