lang vn lang en

Trang nhất » Tin Địa lý » Tin tức địa lý trong nước

Đánh giá xu thế biến đổi khí hậu trên khu vực Tây Nguyên

Thứ năm - 29/09/2016 20:57
Nhằm góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (nay là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu) chủ trì thực hiện đề tài TN3/T25 "Nghiên cứu điều kiện khí hậu nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phòng tránh thiên tai vùng Tây Nguyên" từ tháng 01/2013. Đây là đề tài thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 (Chương trình do Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ trì).

Đề tài đã công bố 4 bài báo trên các tạp chí KHCN chuyên ngành, đào tạo 1 thạc sỹ và đang hỗ trợ đào tạo 1 tiến sỹ, được Hội đồng KHCN cấp Nhà nước nghiệm thu đạt loại Khá vào tháng 5/2015. 

Bài viết này trình bày một trong các kết quả của đề tài TN3/T25, đó là xác định mức độ và xu thế biến đổi của nhiệt độ trung bình, lượng mưa và các chỉ số cực đoan khí hậu vùng Tây Nguyên. Kết quả nghiên cứu này dựa trên số liệu của các trạm tiêu biểu cho 5 tỉnh khu vực Tây Nguyên bao gồm: Kon Tum (tỉnh Kon Tum), Playku, Ayunpa (Gia Lai), Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Đắk Nông (Đắk Nông) và Bảo Lộc (Lâm Đồng). Thời gian của chuỗi số liệu từ 1961-2010.

Hoang Duc Cuong bien doi khi hau
Xu thế biến đổi của số ngày nắng nóng - Tmax > 35oC (ngày/10 năm - trái)
và số ngày nắng nóng gay gắt - Tmax > 37oC (ngày/10năm - phải)

Xu thế biến đổi của nhiệt độ trung bình

Trong thời kỳ nghiên cứu, nhiệt độ trung bình mùa khô, mùa mưa và cả năm đều có xu thế tăng với tốc độ lần lượt là 0.028oC/năm, 0.016oC/năm và 0.019oC/năm. Nhiệt độ trung bình mùa khô tăng nhanh hơn nhiệt độ trung bình mùa mưa và cả năm.

Xu thế biến đổi của lượng mưa

Trong 50 năm khảo sát, lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa cả năm đều có xu thế tăng với tốc độ lần lượt là 5.47 mm/năm, 6.36 mm/năm và 11.6 mm/năm. Lượng mưa mùa khô tăng ít hơn lượng mưa mùa mưa và ít hơn nhiều so với lượng mưa cả năm.

Xu thế biến đổi các hiện tượng cực đoan liên quan đến nhiệt độ

Xu thế biến đổi của số ngày nắng nóng (Su35) và nắng nóng gay gắt (Su37) tăng trên hầu hết các trạm thuộc Tây Nguyên, tuy nhiên tốc độ tăng không lớn, phổ biến dưới 1 ngày/10 năm, ngoại trừ Buôn Ma Thuột có xu thế tăng cao nhất là 1,7 ngày/10năm. Xu thế giảm xuất hiện ở một số trạm như Đắk Nông (Su35: -0,31ngày/10 năm), trạm Ayunpa (Su35: -1,5 ngày/10 năm, đặc biệt giảm đáng kể với số ngày nắng nóng gắt Su37: 3,1 ngày/10năm).

Xu thế tăng nhẹ của nhiệt độ tối cao tuyệt đối chỉ tồn tại ở các trạm Playcu và Buôn Ma Thuột. Trong khi đó, giá trị thấp nhất của nhiệt độ tối cao (Txn), giá trị cao nhất của nhiệt độ tối thấp (Tnx) và nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có xu hướng tăng rõ ràng ở hầu hết các trạm thuộc Tây Nguyên, đặc biệt là ở phía Nam khu vực.

Xu thế giảm số ngày có Tx dưới phân vị 10% ở các trạm phía Bắc và tăng ở các trạm phía Nam khu vực Tây Nguyên. Đối với Tn10p (giá trị nhiệt độ thấp nhất ngày - với bách phân vị 10%), kết quả tính toán cho thấy xu hướng giảm đáng kể ở hầu hết các trạm, với mức độ giảm khoảng từ 2 đến hơn 6 ngày/10năm.

Số ngày và đêm nóng có xu hướng tăng rõ rệt. Cụ thể số ngày nóng (Tx10p) tăng rõ rệt ở hầu hết các trạm, với mức độ tăng khoảng từ 1 đến 2 ngày/10 năm. Duy nhất chỉ có xu thế giảm tại trạm Bảo Lộc, với mức độ giảm khoảng 2,63 ngày/10 năm. Số đêm nóng (Tn90p) cũng có xu hướng tăng đáng kể trên tất cả các trạm tính toán, với mức độ tăng phổ biến từ 1 đến trên 7 ngày/10 năm.

Xu thế biến đổi các hiện tượng cực đoan liên quan đến lượng mưa

Xu thế biến đổi lượng mưa cực đại trong 1 ngày (Rx1day) và và trong 5 ngày liên tiếp (Rx5day) tăng trên hầu hết các trạm và chỉ giảm ở 3 trạm (Đà Lạt, Ayunpa và Đắk Nông). Mức độ tăng nhanh nhất của lượng mưa cực đại trong 1 ngày được ghi nhận là 12,7 mm/10năm (tại Buôn Ma Thuột), lượng mưa cực đại trong 5 ngày liên tiếp tăng nhiều nhất là 24,1 mm/10năm (tại trạm Bảo Lộc). Trong khi đó lượng mưa cực đại giảm nhiều nhất tại Ayunpa (trong 1 ngày là -17,1mm/10 năm, trong 5 ngày liên tiếp là -9,8 mm/10 năm).

Đối với mưa lớn (R50) và mưa rất lớn (R100), kết quả tính toán cũng cho thấy xu hướng tăng trên hầu hết các trạm. Trong đó, tăng nhanh nhiều nhất là đối với R50 tại trạm Buôn Ma Thuột, Bảo Lộc và Đắk Nông với mức độ tăng khoảng 1 ngày/10năm.

Số ngày khô hạn (Cdd) tăng ở một số nơi như Ayunpa, Buôn Ma Thuột, Bảo Lộc, trong khi đó lại giảm ở những nơi khác. Số ngày ẩm ướt (Cwd) có xu thế giảm trên đa số các trạm. Diễn biến nêu trên lý giải về sự gia tăng của tình trạng khô hạn ở Tây Nguyên trong thời gian gần đây.

Xu thế biến đổi của Tổng lượng mưa ngày (R95p và R99p) là tăng trên đa số các trạm, với mức độ tăng trong khoảng từ 28,1 đến 75,6mm/10năm (R95p) và tăng khoảng 7,8 đến 55,9 mm/10 năm (R99p). Xu thế giảm của R95p khoảng 35,46 mm/10 năm (Ayunpa) và khoảng từ 5,7 đến 49,8 mm/10 năm (tại trạm Đà Lạt và Ayunpa).

Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy nhiệt độ trung bình và lượng mưa trong mùa khô, mùa mưa và cả năm ở Tây Nguyên đều có xu thế tăng. Tốc độ tăng của nhiệt độ trong mùa khô cao hơn so với trong mùa mưa và cả năm. Ngược lại, tốc độ tăng của lượng mưa trong mùa khô lại thấp hơn nhiều so với trong mùa mưa và cả năm.

Về nhiệt độ, các chỉ số cực đoan liên quan đến nhiệt độ tối thấp tăng nhanh hơn so với các chỉ số cực đoan liên quan đến nhiệt độ tối cao, dẫn đến biên độ nhiệt độ có xu thế giảm. Mặc dù, nhiệt độ tối cao tuyệt đối không có dấu hiệu tăng nhưng số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt, số ngày có đêm nóng tăng lên đáng kể.

Về lượng mưa, hầu hết các chỉ số cực đoan liên quan đến mưa lớn đều tăng trên khu vực, ngoại trừ Ayunpa có xu thế giảm đáng kể trong những năm qua.

Nguồn tin: Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
ISIVAST

Là phiên bản điện tử trực tuyến có thể in được ra giấy, Bản tin hướng tới mục đích cung cấp thêm một kênh thông tin mới cho toàn thể cán bộ trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về các mặt hoạt động của Viện Hàn lâm nói chung và của các đơn vị trực thuộc nói riêng. Bên cạnh những tin tức của Viện, Bản tin còn mang đến cho bạn đọc những tin tức chọn lọc hữu ích về các hoạt động khoa học và công nghệ ở trong nước và trên thế giới đáng được bạn đọc quan tâm và theo dõi.


Số 07-2017 số 08-2017 số 09-2017
Số 04-2017 số 05-2017 số 06-2017
Số 01-2017 Số 02-2017 Số 03-2017
Số 10-2016 Số 11-2016 Số 12-2016
Số 7-2016 Số 8-2016 Số 9-2016
Số 4-2016 Số 5-2016 Số 6-2016
Số 01,02-2016 Số 3-2016
Số 10-2015 Số 11-2015 Số12-2015
Số 7-2015 Số 8-2015 Số 9-2015
Số 4-2015 Số 5-2015 Số 6-2015
Số 01-2015 Số 02-2015 Số 3-2015

Không cần đăng nhập,
Sử dụng mật khẩu và passwords là Guest

Hệ thống tìm kiếm và lưu trữ trực tuyến các văn bản trực thuộc và liên quan của Viện Hàn lâm KHCNVN

Viện Hàn Lâm KHCNVN ban hành
Quyết định
Thông báo
Kế hoạch - Tài chính
Khoa học - Công nghệ
Tổ chức - Cán bộ
Giáo dục - Đào tạo
Hợp tác quốc tế
Thông tin - Xuất bản

Văn bản mẫu

Trung tâm TTTL ban hành

Bộ KHCN ban hành

 

Trang chủ | Giới thiệu
Trang thông tin điện tử thuộc bản quyền và quản lý của Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
                                              Địa chỉ:  Nhà A27, Số 18 Hoàng Quốc Việt - Phường Nghĩa Đô - Cầu Giấy - Hà Nội
                                              Điện thoại: (84 4) 3 756 3539                Fax: (84 4) 3 836 1192
                                              Email:
qlthvdl@gmail.com                     email ban quản trị website: ig.vast.vn@gmail.com