lang vn lang en

Trang nhất » Công trình » Tuyển tập Hội nghị

Đề tài hợp tác Quốc tế Đề tài trọng điểm Quốc gia Đề tài cấp Nhà nước, Đề tài cấp Bộ Đề tài cơ sở Viện Địa lý Đề tài Hợp tác với các địa phương Đề tài cấp Viện Hàn lâm
KHCN Việt Nam
Sách-Báo-
Chuyên khảo
Tuyển tập Hội nghi

Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Điện Biên và ảnh hướng của chúng đến sự phát triển du lịch

Thứ ba - 30/09/2014 10:56
Là một tỉnh miền núi phía tây bắc của Tổ quốc – địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người, có điều kiện tự nhiên, thiên nhiên hùng vĩ, phong phú và đa dạng, có di tích lịch sử Điện Biên Phủ gắn liền với lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, tỉnh Điện Biên có nhiều lợi thế để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịck mạo hiểm, du lịch văn hóa lịch sử. Tuy nhiên trong xu thế biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu và khu vực, thời gian gần đây ở tỉnh Điện Biên thường xảy ra một số tai biến thiên nhiên như mưa lớn, sạt lở đất, lũ quét, lũ ống… ảnh hưởng đến đời sống người dân, gây thiệt hại lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, trong đó có hoạt động du lịch. Báo cáo này trình bày kết quả nghiên cứu những biểu hiện BĐKH ở Điện Biên, phân tích những tác động của BĐKH đối với sự phát triển ngành du lịch và bước đầu đề xuất những biện pháp giảm thiểu tác hại xấu của thiên tai liên quan đến BĐKH góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái, tạo điều kiện để phát huy thế mạnh về du lịch của tỉnh Điện Biên.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Mọi hoạt động dân sinh, kinh tế - xã hội của con người đều chịu sự chi phối của nhân tố khí hậu. Khí hậu được coi là một trong những nguồn lực tự nhiên cần thiết để đề xuất các phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế của mỗi khu vực. Khí hậu có tác động hai mặt, riêng đối với du lịch, một mặt nó tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển một số loại hình du lịch, mặt khác những thiên tai do thời tiết khí hậu mang lại lại là những hạn chế, đôi khi rất đáng kể đối với các hoạt động kinh tế du lịch. Chính vì thế trong phát triển kinh tế du lịch cần đánh giá chính xác những thuận lợi và khó khăn của nguồn tài nguyên này nhằm sử dụng có hiệu quả, hạn chế những tác động bất lợi. Trong những năm gần đây, khi BĐKH đã trở thành vấn đề toàn cầu, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, trong đó ngành du lịch và nông nghiệp là hai ngành chịu tác động sâu sắc nhất. Là một tỉnh miền núi phía tây bắc của tổ quốc Điện Biên có nhiều tiềm năng lớn để phát triển du lịch, tuy nhiên sự phát triển du lịch còn chưa bền vững, những diễn biến bất thường của thời tiết, khí hậu đã có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động của ngành. Đứng trước bối cảnh đó việc nghiên cứu tác động của BĐKH tới du lịch Điện Biên là hết sức cần thiết, nghiên cứu để thấy rõ những biểu hiện của BĐKH ở đây là gì? từ đó tiến hành đề xuất các giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH trong các hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh.

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
2.1. Biểu hiện BĐKH ở Điện Biên


Nghiên cứu BĐKH đối với du lịch Điện Biên chúng tôi xem xét những biểu hiện của BĐKH đối với 2 yếu tố khí hậu chính là nhiệt độ và lượng mưa. Các đặc trưng nhiệt và mưa được phân tích dựa trên số liệu của 4 trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Điện Biên (bảng 1) với thời gian quan trắc là 50 năm (1961-2011).
Bảng 1. Đặc điểm, tọa độ địa lý, độ cao các trạm khí tượng tỉnh Điện Biên

Stt Tên trạm Kinh độ đông Vĩ độ bắc Độ cao(m) Stt Tên trạm Kinh độ đông Vĩ độ bắc Độ cao(m)
1 Mường Lay 103°09’ 22°4’ 244 3 Pha Đin 103°30’ 21°34’ 1347
2 Tuần Giáo 103°25’ 21°35’ 570 4 Điện Biên 103°00’ 21°21’ 479
 
- Nhiệt độ trung bình có sự biến động rõ rệt và có xu thế tăng qua các thập kỷ

Chế độ nhiệt ở Điện Biên phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa hoàn lưu khí quyển và điều kiện địa hình. Do vị trí nằm khuất sau dãy núi Hoàng Liên Sơn nên không khí lạnh của khối khí cực đới di chuyển đến đây phải đi theo thung lũng sông Đà ngược lên, trên đường di chuyển khối khí này bị biến tính, bớt lạnh đi, vì vậy chế độ nhiệt mùa đông của Điện Biên ấm và khô hơn so với Đông Bắc. Tuy nhiên do địa hình tương đối kín nên mỗi khi có đợt frông lạnh tràn về với cường độ mạnh thì không khí lạnh được giữ lại khá lâu, tạo nên đợt lạnh kéo dài nhiều ngày. Các đặc trưng nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm tỉnh Điện Biên được trình bầy trên bảng 2 dưới đây.
 
Bảng 2. Nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm ở Điện Biên (ºC)
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Mường Lay 17,1 18,7 21,9 24.9 26,3 26,6 26,4 26,5 25,9 23,8 20,4 17,3 23,0
Tuần Giáo 14,9 16,6 19,6 22,7 24,5 25,2 25,2 24,9 23,9 21,8 18,3 15,3 21,1
Pha Đin 12,0 14,0 17,0 20,0 21,0 21,0 20,0 21,0 20,0 18,0 15,0 12,0 18,0
Điện Biên 16,3 18,1 20,7 23,6 25,4 26,1 25,8 25,5 24,7 22,7 19,3 16,3 22,1
 
 Nguồn: [3]

Bảng 3 trình bầy diễn biến của nhiệt độ trung bình năm qua 5 thập kỷ gần đây. Và để đánh giá được mức độ tăng hoặc giảm của nhiệt độ ở đây chúng tôi so sánh nhiệt độ trung bình các thập kỷ (TK1: 61-70; TK2: 71-80; và tương tự TK4; TK5) với trung bình thời kỳ chuẩn (TKC) 1971-2000. Nhìn chung, trên tất cả các trạm 2 thập kỷ đầu nhiệt độ trung bình thấp kỷ thấp hơn TKC; hai thập kỷ cuối nhiệt độ trung bình thập kỷ có xu thế cao hơn TKC. Tuy nhiên, mức độ tăng của các nơi không giống nhau, tăng mạnh nhất là ở Tuần Giáo: thập kỷ đầu thấp hơn TKC là 0,5°C, thập kỷ cuối cao hơn TKC là 0,9°C.
Bảng 3. Nhiệt độ trung bình năm (1), nhiệt độ trung bình tháng I (2), nhiệt độ trung bình tháng VII (3), trong 5 thập kỷ gần đây ở Điện Biên (ºC)
Đặc trưng Địa điểm TKC
 
Các thập kỉ Trị số
TK1 TK2 TK3 TK4 TK5 Lớn nhất Nhỏ nhất
Trị số Năm Trị số Năm
 (1) Mường Lay 23,0 22,8 22,9 23,0 23,1 23,2 24,0 2010 22,4 1976
Tuần Giáo 21,0 20,5 20,7 20,9 21,5 21,9 22,1 2010 19,5 1986
Pha Đin 17,6 17,3 17,4 17,6 17,8 17,9 18,7 2010 14,9 1970
Điện Biên 22,1 21,8 21,9 22,2 22,3 22,5 23,0 2010 21,0 1971
(2) ường Lay 17.2 16,7 16,9 17,2 17,4 17,3 19,2 2010 14,9 1962
Tuần Giáo 15.0 13,6 14,5 15,0 15,6 15,6 18,6 1990 11,9 1963
Pha Đin 12,2 12,0 12,0 12,0 12,9 12,2 15,2 1998 8,7 2011
Điện Biên 16,7 14,9 15,8 17,2 17,2 17,3 19,1 1991 12,9 1963
(3) ường Lay 26.4 26,2 26,4 26,4 26,4 26,5 27,5 2009 25,3 1964
Tuần Giáo 25.1 24,9 24,9 25,1 25,3 25,7 26,3 2004 24,3 1964
Pha Đin 20,4 20,6 20,3 20,4 20,8 20,8 21,5 1983 19,6 1971
Điện Biên 25,8 25,6 25,7 25,9 26,0 26,1 26.8 2003 24,8 1964
 

Như vậy nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng dần qua các thập kỉ. Phần lớn các nơi nhiệt độ cao nhất đều thuộc những năm gần đây, nhiệt độ thấp nhất rơi vào TK1 (61-70). Năm nóng nhất thường rơi vào các năm 1998 và 2010, đó là những năm nắng nóng kỉ lục trong nhiều thập kỉ qua, nhiệt độ các tháng mùa hè lên tới 26-27°C, nguyên nhân là do năm đó là năm có hiện tượng El-Nino (pha nóng của ENSO).

Về nhiệt độ trung bình mùa đông thể hiện thông qua trị số nhiệt độ trung bình tháng I (bảng 3), nhiệt độ cao nhất đều rơi vào hai thập kỉ gần đây và nhiệt độ thấp nhất đều rơi vào thập kỉ TK1 hoặc TK2. TK1 nhiệt độ thấp hơn TKC khoảng 0,4°C. Sang TK2 nhiệt độ cao hơn nhưng vẫn thấp hơn TKC. Nhiệt độ không khí trung bình các tháng mùa đông – tháng I tăng lên ở tất cả các trạm từ 0,2-0,6°C. Tại trạm Pha Đin nhiệt độ trung bình tháng I TK5 – thập kỷ cuối bằng với TKC: 12,2°C, tuy nhiên thực tế do năm 2011 nhiệt độ tháng 1 ở đây đột ngột xuống tới 8,7°C, thấp nhất trong vòng 50 năm qua, nếu không tính trị số năm này thì nhiệt độ thập kỉ cuối của Pha Đin cao hơn TKC là 0,4°C. Tương tự nhiệt độ trung bình mùa hè thể hiện qua nhiệt độ trung bình tháng VII, nhiệt độ cao nhất rơi vào thời gian gần đây và nhiệt độ thấp nhất là ở TK1 hoặc TK2. Thời kì mùa lạnh bắt đầu muộn hơn và kết thúc sớm hơn, thời gian ngắn hơn ở những thập kỉ gần đây, số ngày nhiệt độ < 20°C ít hơn các giai đoạn trước.
 
Bảng 4. Độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ không khí trung bình tháng, năm ở Điện Biên (ºC)
Tên trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Mường Lay 1,0 1,3 1,0 1,0 0,9 0,5 0,5 0,6 0,6 0,8 1,0 1,3 0,9
Tuần Giáo 1,4 1,6 1,3 1,0 0,7 0,6 0,6 0,6 0,8 1,0 1,1 1,4 1,0
Pha Đin 1,5 2,3 1,7 1,2 0,8 0,5 0,5 0,5 0,5 0,7 1,1 1,5 1,1
Điện Biên 1,4 1,4 0,9 0,8 0,6 0,6 0,5 0,4 0,5 0,9 1,1 1,5 0,9
 
 
Độ lệch chuẩn của nhiệt độ trung bình năm ở Điện Biên có trị số dao động từ 0,9- 1,1°C. Các tháng mùa đông độ lệch tiêu chuẩn lớn hơn các tháng mùa hè, độ lệch cao nhất là vào tháng II (1,4-2,3°C) và thấp nhất là vào tháng VIII (0,4-0,6°C). Trong giai đoạn nghiên cứu (1961-2011) nhiệt độ có sự biến động xung quanh giá trị trung bình, mùa đông nhiệt độ biến động mạnh hơn, mùa hè nhiệt độ ít biến động hơn.
 
Hình 1. trình bầy biến trình độ lệch nhiệt độ không khí trung bình từng năm so với trung bình nhiều năm, các trạm có độ lệch dương cực đại từ 0,7 đến 1,0°C xảy ra vào năm 2010. Độ lệch âm dao động từ -0,1 đến -1.7°C quan sát thấy ở tất cả các trạm trong những năm từ 1961 đến 1969 hay từ 1972 đến 1979, điều đó cho thấy sự tác động của cùng một chế độ hoàn lưu tới tất cả các trạm ở khu vực nghiên cứu.

 
Hình 1: Đồ thị độ lệch nhiệt độ trung bình của năm ở Điện Biên giai đoạn 1961-2011
 
Phương trình xu thế giai đoạn 1961-2011 thể hiện sự tăng lên của nhiệt độ không khí trung bình tại các nơi thuộc tỉnh Điện Biên. Phương trình có hệ số a > 0, tức nhiệt độ không khí trung bình năm tăng theo chuỗi thời gian. Trị số của hệ số biến thiên a chính là giá trị mức tăng nhiệt độ trung bình mỗi năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ không khí trung bình có sự biến động mạnh trong chuỗi thời gian và có xu hướng tăng lên. Mức tăng trung bình ở tất cả các trạm từ 0,2- 0,4°C/thập kỷ.


Hình 2: Biến trình nhiều năm và các đường xu thế của nhiệt độ trung bình năm tại các trạm khí tượng tỉnh Điện Biên, giai đoạn 1961-2011

- Sự biến động về lượng mưa

Bảng 5 trình bầy sự phân hóa của tổng lượng mưa trung bình, tổng lượng mưa tháng tại các trạm của tỉnh Điện Biên.
 
Bảng 5: Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm ở Điện Biên (mm)
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Mường Lay 30,6 36,1 62,4 135,7 274,6 441,4 475,7 358,7 153,6 86,1 48,0 22,4 2114,7
Tuần Giáo 24,7 29,5 61,6 134,8 215,3 269,1 303,1 272,3 134,8 60,6 37,3 23,7 1558,6
Pha Đin 26,7 29,6 65,3 139,3 223,9 309,9 348,9 325,2 167,4 72,8 41,5 22,4 1751,3
Điện Biên 22,0 30,0 57,0 112,0 192,0 264,0 317,0 310,0 157,0 60,0 30,0 24,0 1573,0
 
 Nguồn: [3]

Lượng mưa trung bình năm của Điện Biên dao động trong khoảng từ 1573,0 – 2114,7mm, thể hiện sự phụ thuộc vào hoàn lưu khí quyển và địa hình đón gió hay khuất gió.
 
Bảng 6: Độ lệch tiêu chuẩn trung bình tháng và năm của lượng mưa ở Điện Biên (mm)
Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Mường Lay 29,5 29,3 49,2 57,4 111,7 152,3 134,6 138,5 73,4 60,0 52,4 25,9 914,3
Tuần Giáo 21,6 26,7 45,2 51,7 84,6 121,5 103,7 112,2 77,9 45,1 43,0 26,7 760,0
Pha Đin 23,6 25,8 47,3 57,0 89,3 110,4 100,8 121,2 74,0 47,0 45,9 27,2 769,4
Điện Biên 23,0 35,6 44,1 50,8 84,2 115,2 113,5 132,4 76,3 38,6 33,6 26,9 774,2
 

Độ lệch tiêu chuẩn năm của tổng lượng mưa tại các trạm dao động trong khoảng 760 -914mm. Nơi mưa nhiều có giá trị độ lệch tiêu chuẩn năm lớn hơn nơi mưa ít. Ở cùng một địa điểm, giá trị biến động của tổng lượng mưa năm lớn hơn giá trị biến động của lượng mưa các tháng trong năm. Độ lệch tiêu chuẩn trung bình các tháng mùa mưa (IV-IX) dao động trong khoảng 60-152,3mm, các tháng mùa khô (XI-II) độ lệch tiêu chuẩn lượng mưa tháng dao động trong phạm vi thấp hơn, khoảng 21,6-52,4mm.
 
Bảng 7: Sự biến đổi của lượng mưa trung bình năm tỉnh Điện Biên (mm)
Địa điểm TKC
1971-2000
Các thập kỉ Trị số
TK1 TK2 TK3 TK4 TK5 Cao nhất Thấp nhất
Trị số Năm Trị số Năm
Mường Lay 2082,9 2112,4 2026,6 2005,1 2217,1 2149,7 3101,0 2002 1594,8 1983
Tuần Giáo 1554,9 1536,1 1752,3 1235.2 1696,1 1508,9 2137,8 1973 918,0 2011
Pha Đin 1764,0 1558,4 1921,2 1642,0 1728,7 1761,5 2547,1 2008 951,6 2006
Điện Biên 1584,5 1494,6 1554,9 1633,3 1661,0 1483,2 2239,9 1994 856,6 1964
 

Tính toán những đặc trưng thống kê đối với các chuỗi số liệu ở Điện Biên cho thấy: Ở Mường Lay lượng mưa trung bình nhiều năm thời kì nghiên cứu là 2114,7mm, độ lệch dương max 986,3mm, độ lệch âm max 519,9mm, số năm vượt trung bình là 20, số năm dưới trung bình là 28 năm, còn hệ số biến động là 18%. Tại Tuần Giáo tổng lượng mưa năm có sự biến động như sau: Lượng mưa trung bình thời kì nghiên cứu là 1558,6mm, độ lệch dương max 579,2mm, độ lệch âm max 640,6mm, hệ số biến động 15,3%. Ở Pha Đin với lượng mưa trung bình nhiều năm là 1751,3mm còn hệ số biến động 16,3%, độ lệch dương max 795,8mm, độ lệch âm max 799,7mm. Tổng lượng mưa năm trung bình của trạm Điện Biên thời kì 1961 - 2001 là 1573,0mm. Độ lệch dương max 666,9mm, độ lệch âm max 716.4mm, số năm vượt trung bình 24 năm, số năm dưới trung bình 26 năm.
 



Hình 3: Biến trình nhiều năm và các đường xu thế biến đổi của tổng lượng mưa năm tại các trạm khí tượng tỉnh Điện Biên, giai đoạn 1961-2011.

Phương trình xu thế (y= -7,5818x + 16712) thể hiện lượng mưa ở trạm Điện Biên có xu hướng giảm (hệ số biến thiên a < 0). Các khu vực khác như Tuần Giáo (y = 5,424x – 9324), Pha Đin (y = 7,394x – 13089), Mường Lay (y = 4,850x – 7557) lượng mưa có xu hướng tăng lên (hệ số biến thiên a > 0). Giá trị của hệ số biến thiên a chính là trị số lượng mưa trung bình tăng hoặc giảm mỗi năm.

Chế độ mưa – mùa mưa ở Điện Biên được phân tích trên cơ sở 3 đặc trưng: tần suất bắt đầu, tần suất cao điểm và tần suất kết thúc (bảng 8). Tháng bắt đầu và kết thúc mùa mưa được xác định bằng thời kỳ tổng lượng mưa tháng vượt qua hoặc hạ xuống dưới 100mm/tháng. Thời kỳ cao điểm của mùa mưa là tháng có lượng mưa lớn nhất.

So với một số nơi ở Đông Bắc nước ta, tần suất bắt đầu mùa mưa của một số trạm ở Điện Biên khá sớm và không ổn định, mùa mưa sớm nhất bắt đầu từ tháng I và bắt đầu muộn nhất có thể là trong tháng VI. Tuy nhiên tần suất bắt đầu lớn nhất đều rơi vào tháng IV, chiếm khoảng 46-66%.

Thời điểm kết thúc mùa mưa năm sớm nhất có thể là tháng VII, năm muộn có thể kết thúc ở tháng XII, tuy nhiên mùa mưa kết thúc với tần suất cao nhất chủ yếu là trong tháng XI, tần suất đạt khoảng 40-58%.

Cao điểm của mùa mưa nằm trong khoảng thời gian từ tháng V đến tháng VIII, tuy nhiên tần suất cao nhất từ 36-42% chủ yếu rơi vào tháng VII và riêng trạm Điện Biên có thể là cả tháng VIII.
 
Bảng 8: Tần suất bắt đầu, cao điểm và kết thúc mùa mưa ở Điện Biên
Stt Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
  Tần suất bắt đầu của mùa mưa (%)
1 Mường Lay 2,0 2,0 16,0 66,0 12,0 2,0            
2 Tuần Giáo 2,0 0,0 16,0 60,0 22,0              
3 Pha Đin 2,0 - 19,0 62,0 15,0 2,0            
4 Điện Biên 2,0 4,0 20,0 46,0 30,0              
  Tần suất cao điểm của mùa mưa (%)
1 Mường Lay         6.0 38,0 42,0 14,0        
2 Tuần Giáo         12,0 18,0 40,0 30,0        
3 Pha Đin         6,0 23,5 36,0 34,5        
4 Điện Biên         4,0 16,0 40,0 40,0        
  Tần suất kết thúc của mùa mưa (%)
1 Mường Lay               14,0 40,0 30,0 14,0 2,0
2 Tuần Giáo             2,0 26,0 44,0 16,0 10,0 2,0
3 Pha Đin               11,3 51,2 26,0 9,5 2,0
4 Điện Biên               18,0 58,0 18,0 4,0 2,0
 
 
- Các hiện tượng thời tiết cực đoan

Dưới tác động của BĐKH, một số loại hình thời tiết đặc biệt trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong những thập kỉ gần đây có sự biến động. Mưa đá với những viên lớn khác thường đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với đời sống người dân, hoạt động kinh tế xã hội. Ở Mường Lay trong năm có 1,8 ngày mưa đá, Pha Đin 1,6 ngày. Kèm theo mưa đá là gió lốc có đường kính khoảng 50 – 150m [4], xảy ra vào thời kì chuyển tiếp giữa mùa lạnh sang mùa nóng. Trị số nhiệt độ thấp nhất của Điện Biên hàng năm tăng lên, trong TK1 ở trạm Điện Biên, năm 1961 nhiệt độ xuống tới -0,4°C, hay năm 1974 là -1,3°C, các thập kỉ sau không xuất hiện các trị số âm nữa, năm 1997 nhiệt độ thấp nhất là 10,2°C, năm 2011 là 8,8°C.

Phương trình hồi quy của đường nhiệt độ thấp nhất ở tất cả các trạm trong khoảng thời gian nghiên cứu có hệ số dương, thể hiện nhiệt độ thấp nhất của Điện Biên hàng năm tăng lên cùng với sự giảm đi của các đợt lạnh. Các vùng thấp của Điện Biên chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng, vào những năm gió khô nóng hoạt động mạnh mùa mưa có thể bị ngắt quãng khoảng 1 tháng vào thời kì đầu đến giữa hè [8].

2.2. Những tác động của biến đổi khí hậu đến ngành du lịch tỉnh Điện Biên.
2.2.1. Tác động đến tài nguyên du lịch.

- Tác động đến tài nguyên du lịch tự nhiên

Điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, một thành phần thay đổi, các thành phần khác cũng thay đổi theo. Nhiệt độ tăng lên nhiều vùng hạn hán kéo dài, lớp phủ thực vật mỏng, không có khả năng giữ đất, giữ nước. Lượng mưa trung bình một số nơi giảm nhưng trong từng năm lại xuất hiện những trận mưa với cường độ lớn dẫn tới thay đổi thủy chế, gia tăng dòng chảy cát bùn. Các túi nước ngầm cũng có xu hướng suy giảm khối lượng và chất lượng ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nước cho du lịch. Địa hình Điện Biên mang đặc trưng của vùng Tây Bắc với hình thái chia cắt phức tạp, xen kẽ là những thung lũng hẹp là điều kiện phát triển du lịch khám phá, leo núi… nhưng khi mưa lớn, khó dự báo thường kèm theo trượt lở đất, nhiều hang động bị sạt lấp cửa hang, ảnh hưởng đến sự an toàn của hoạt động du lích, gia tăng chi phí cho việc cải tạo lại các cơ sở du lịch sau thiên tai.

Với lớp phủ thực vật khá độc đáo đa dạng sinh học phong phú, Điện Biên có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái. BĐKH đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của các hệ sinh thái rừng, các loài sinh vật quý hiếm, loài đặc hữu có giá trị du lịch, một số sâu bệnh phát triển mạnh hơn, một số nguồn gien quý giảm sút thậm chí tuyệt chủng. Những năm El- Nino là những năm cháy rừng trên diện rộng, cháy rừng không những thiệt hại về kinh tế - xã hội mà còn phá huỷ cảnh quan sinh thái, suy giảm tính đa dạng sinh học dẫn tới suy thoái môi trường du lịch vốn đã rất nhạy cảm, từ đó ảnh hưởng đến khả năng phát triển, sản phẩm du lịch và tất yếu sẽ dẫn đến suy giảm các dạng tài nguyên tự nhiên để phát triển du lịch tại Điện Biên.

- Tác động đến tài nguyên du lịch nhân văn

Du lịch văn hóa, lịch sử là thế mạnh lớn của Điện Biên, tuy nhiên mưa bão bất thường trong những năm gần đây đã gây hư hại cầu cống, đồng thời làm xuất hiện nhiều yếu tố cực đoan như gây ngập úng, lũ lụt kéo dài, làm thiệt hại những di tích lịch sử văn hóa. Tại một số di tích lịch sử của chiến tháng Điện Biên Phủ, do các di tích nằm ngay ngoài tự nhiên trong đât nên gặp thiên tai nắng nóng kéo dài, mưa lớn cấp tập, nước chảy từ mặt đất vào trong các cấu trúc, phá hoại qua quá trình bốc hơi bề mặt. Cấu trúc của tường và sàn bị phá hoại trực tiếp do quá trình này. Độ ẩm đất tăng lên cũng phá hủy các cấu trúc tinh thể trang trí trên bề mặt. Có thể nói các di tích đã bị phá hủy do ảnh hưởng của thiên tai, thời tiết bất lợi trong BĐKH. Tình trạng suy giảm hoặc làm mất đi các tài nguyên du lịch ở Điện Biên sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì chất lượng các sản phẩm du lịch đã có và làm ảnh hưởng đến việc xây dựng phát triển các sản phẩm du lịch mới.

2.2.2. Tác động đến hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch thường được diễn ra vào mùa khô để tránh những diễn biến bất thường của thời tiết khí hậu. Trên quốc lộ 6 vào mùa mưa, nhiều đoạn đường bị sạt lở, gây ách tắc giao thông, dẫn đến các tua du lịch bị hủy bỏ. BĐKH với sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ quét, sạt lở đất đã gây những ảnh hưởng không nhỏ đối với các cơ sở lưu trú du lịch, phá hủy cơ sở hạ tầng du lịch, đường xá, khách sạn, hệ thống thông tin liên lạc…

2.2.3. Tác động đến hoạt động du lịch

Đối với hoạt động du lịch tại Điện Biên, kết quả nghiên cứu cho thấy những biểu hiện bất thường của thời tiết, khí hậu có liên quan đến BĐKH đã có những tác động tiêu cực đến việc tổ chức thực hiện các chương trình du lịch, gây ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh du lịch, ảnh hưởng đến quyền lợi và nguy hiểm đến tính mạng của du khách. Du lịch của Điện Biên chủ yếu bao gồm các hoạt động nghỉ dưỡng, tham quan các di tích lịch sử, chủ yếu diễn ra ngoài trời nên phụ thuộc nhiều vào diễn biến thời tiết. Do đó, nếu điều kiện thời tiết thuận lợi thì hoạt động du lịch sẽ diễn ra suôn sẻ và ngược lại, thời tiết xấu sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động du lịch. Trong thời gian từ các tháng VI-VIII thường có lốc và mưa lớn xuất hiện nên hoạt động du lịch của tỉnh phần nào đã bị ảnh hưởng. Và chính những chi phí cho việc phòng chống, hạn chế, giảm thiều những yếu tố bất lợi của khí hậu, thời tiết sẽ khiến cho giá tua du lịch tăng lên. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho du khách đến đây bị hạn chế. Không chỉ dừng lại ở đó, hiện tượng nắng nóng kéo dài, mùa mưa diễn ra bất thường, mùa đông đang ấm dần lên đe doạ trực tiếp tới hoạt động du lịch của Điện Biên. Những trận lũ lụt ngày càng ra tăng cả về số lượng và tần suất đã huỷ hoại môi trường, gây khó khăn cho công tác di chuyển, làm giảm lượng khách du lịch, kéo theo đó là doanh thu ngành du lịch giảm.

 Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với môi trường. Do đó du lịch có tác động qua lại với tất cả các yếu tố của môi trường chung. Khi môi trường bị suy giảm sẽ kéo theo sự đi xuống của hàng loạt các hoạt động du lịch cũng như chất lượng môi trường du lịch ở khu vực đó. Và ngược lại, du lịch một khi có tác động tích cực tới môi trường sẽ thu hút khách du lịch gần xa, tạo công ăn việc làm cho người dân, kích thích sự phát triển của các làng nghề thủ công, cải thiện đời sống cộng đồng nhân dân địa phương. BĐKH ở Điện Biên với sự gia tăng những nhân tố bất thường trong diễn biến thời tiết và khí hậu đã gây ảnh hưởng đến các thành phần tự nhiên khác mà những thành phần này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì vậy sự suy giảm của chất lượng môi trường sẽ dẫn đến sự giảm sức hút của hoạt động du lịch.

2.3. Các giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH để phát triển bền vững ngành du lịch ở Điện Biên
2.3.1. Giải pháp giảm nhẹ BĐKH

Các cơ sở lưu trú phục vụ du lịch của Điện Biên cần hướng tới việc thay thế các thiết bị làm lạnh có sử dụng CFC, hạn chế khí thải CO2 trong hoạt động du lịch, khuyến khích phát triển loại hình du lịch thân thiện với môi trường, áp dụng mô hình giảm thiểu chất thải, tái sử dụng, tái chế chất thải (3R), khuyến khích sử dụng năng lượng thay thế như quang năng, hay sử dụng các loại bóng tít kiệm điện... Cần xây dựng hệ thống cây xanh, không chặt phá rừng, thay đổi thói quen sử dụng năng lượng, cũng như sử lí chất thải nhằm giảm thiểu khí nhà kính, phát triển các loại hình du lịch thân thiện với môi trường.

2.3.2. Giải pháp thích ứng với BĐKH

- Giải pháp về quản lí

Có chính sách phát triển và liên kết hỗ trợ giữa các ngành kinh tế, các cấp quản lí để thống nhất quản lí và kiểm soát thiên tai do thời tiết khí hậu bất lợi gây nên, kiểm soát môi trường sinh thái. Đề ra những mức xử phạt cụ thể đối với hành vi phá hoại hay gây ô nhiễm môi trường. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lí hoạt động du lịch, để phát triển du lịch gắn liền với bảo tồn tính ĐDSH của thiên nhiên ở địa phương.

- Giải pháp quy hoạch tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lí

Việc thực hiện quy hoạch hợp lí giúp cho công tác quản lí du lịch đạt hiệu quả cao. Các điểm, tuyến du lịch cần được sắp xếp khoa học để khai thác tối ưu tài nguyên du lịch. Xây dựng quy hoạch tổng thể về du lịch thân thiện với môi trường và một loạt vấn đề về kiến trúc công trình, bảo tồn cảnh quan trong xu thế BĐKH sắp tới.
Nâng cấp các tuyến đường giao thông quan trọng để đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hành khách.

 - Giải pháp nhằm sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch

Xây dựng chiến lược khai thác hợp lí các nguồn tài nguyên phục vụ du lịch, sử dụng sản phẩm bê tông thấm nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng. Tăng cường các hoạt động điều tra, mô hình, giám sát, phân tích mức nhạy cảm, thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu bảo vệ môi trường du lịch, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành du lịch. Điện Biên cần ứng dụng các mô hình sử dụng năng lượng tái tạo. Mặt khác phải có những đánh giá, dự báo những tác động của BĐKH đối với ngành du lịch và có hướng khắc phục sớm. Ngăn chăn sự phá hoại tài nguyên du lịch. Bảo tồn, ủng hộ việc thừa hưởng các di tích lịch sử của dân tộc, tôn trọng các quyền lợi của người dân địa phương trong việc khai thác các tài nguyên du lịch.

Để thích ứng với BĐKH trong bảo tồn di tích lịch sử, Điện Biên nên tạo ra các vùng bảo vệ mới, mở rộng các vùng cần bảo vệ hiện có, xây dựng những hành lang bảo vệ cho các vùng cần bảo vệ. Tạo ra những vùng đệm cho các sinh vật tự nhiên quanh vùng cần bảo vệ, giảm bớt những áp lực về môi trường trong khu vực cần bảo vệ, giảm bớt và loại bỏ các loài sinh vật ngoại lai.

- Giải pháp giáo dục đào tạo nguồn nhân lực du lịch và nâng cao ý thức cộng đồng

 Đào tạo nguồn năng lực có trình độ, phẩm chất, có những hiểu biết nhất định về BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đối với các hoạt động của ngành du lịch. Tuyên truyền giáo dục ý thức bảo vệ môi trường tới mọi người, nâng cao hiểu biết về sử dụng tiết kiệm tài nguyên, cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá du lịch, qua đó góp phần thoả mãn nhu cầu của du khách.

3. KẾT LUẬN

Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Điện Biên và cũng là ngành kinh tế nhạy cảm với các điều kiện môi trường. Do đó, du lịch đã và sẽ là một trong những ngành chịu ảnh hưởng trực tiếp tác động của BĐKH. Mặt khác những hoạt động của du lịch ở Điện Biên hiện nay cũng ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, vì vậy việc bảo vệ môi trường, xây dựng các biện pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH là một trong những vấn đề trọng tâm mà du lịch tỉnh Điện Biên cần thực hiện để đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững trong tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1.    Cục Thống kê tỉnh Điện Biên (2011), Niên giám thống kê tỉnh Điện Biên, NXB Thống Kê, Hà Nội.
2.    Nguyễn Kim Chương (2004), Phương pháp toán trong nghiên cứu địa lí, NXB Đại học sư phạm Hà Nội.
3.    Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Bắc, Số liệu khí hậu (1961 – 2011).
4.    Đài khí tượng thủy văn khu vực Tây Bắc (2010), Tình hình thời tiết, thuỷ văn Điện Biên.
5.    Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi, Vũ Tuấn Cảnh (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục.
6.    Nguyễn Khanh Vân, Nguyễn Đăng Tiến (2012), Du lịch Quảng Ninh – Hải Phòng thích ứng với biến đổi khí hậu để phát triển bền vững, Hội nghị Quốc tế Việt Nam học.
7.    Viện Khí tượng thủy văn và Môi trường (2011), Tài liệu hướng dẫn Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng, NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ, Hà Nội.
8.    Viện quy hoạch thủy lợi (2005), Dự án quy hoạch tổng thể phát triển thủy lợi tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005 -2020.

Tác giả bài viết: Nguyễn Khanh Vân, Trần Thị Hằng

Nguồn tin: Tuyển tập Hội nghị Địa lý toàn Quốc lần thứ 7

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
ISIVAST

Là phiên bản điện tử trực tuyến có thể in được ra giấy, Bản tin hướng tới mục đích cung cấp thêm một kênh thông tin mới cho toàn thể cán bộ trong Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về các mặt hoạt động của Viện Hàn lâm nói chung và của các đơn vị trực thuộc nói riêng. Bên cạnh những tin tức của Viện, Bản tin còn mang đến cho bạn đọc những tin tức chọn lọc hữu ích về các hoạt động khoa học và công nghệ ở trong nước và trên thế giới đáng được bạn đọc quan tâm và theo dõi.


Số 07-2017 số 08-2017 số 09-2017
Số 04-2017 số 05-2017 số 06-2017
Số 01-2017 Số 02-2017 Số 03-2017
Số 10-2016 Số 11-2016 Số 12-2016
Số 7-2016 Số 8-2016 Số 9-2016
Số 4-2016 Số 5-2016 Số 6-2016
Số 01,02-2016 Số 3-2016
Số 10-2015 Số 11-2015 Số12-2015
Số 7-2015 Số 8-2015 Số 9-2015
Số 4-2015 Số 5-2015 Số 6-2015
Số 01-2015 Số 02-2015 Số 3-2015
Trang chủ | Giới thiệu
Trang thông tin điện tử thuộc bản quyền và quản lý của Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
                                              Địa chỉ:  Nhà A27, Số 18 Hoàng Quốc Việt - Phường Nghĩa Đô - Cầu Giấy - Hà Nội
                                              Điện thoại: (84 4) 3 756 3539                Fax: (84 4) 3 836 1192
                                              Email:
qlthvdl@gmail.com                     email ban quản trị website: ig.vast.vn@gmail.com